Tel: (+84) 916 697 667 - E-mail: info@biostarch.vn

Thị trường nhựa sinh học

Thế giới đang đứng trước cuộc cách mạng xanh, trong đó để thay đổi thói quen sử dụng đồ nhựa gây hại đến môi trường và khó phân hủy của người tiêu dùng. Các nhà khoa học đã ngày đêm nghiên cứu ra nhiều loại vật liệu mới để sản xuất nhựa sinh học phục vụ cho nhu cầu của con người trong tương lai. Nhựa sinh học có nguồn từ thực vật (polylactic acid (PLA)) từ ngô, lúa mì, củ cải, v.v  có khả năng tự hủy được dùng trong sản xuất bao bì thực phẩm, dụng cụ ăn uống và nhiều sản phẩm khác. Phát triển sản xuất các sản phẩm nhựa sinh học đang là hướng phát triển mới cho ngành nhựa thế giới do các nước phát triển như Mỹ, EU, Nhật Bản, v.v đang có nhu cầu tiêu thụ lớn đối với loại sản phẩm này.

Tuy nhiên, bảo đảm an ninh lương thực sẽ là vấn đề thách thức đối với công nghệ mới này.

Những bước đi đầu tiên.

Việc sử dụng các nguyên liệu như mùn cưa, dăm, bào, bột gỗ, v.v vào sản xuất tạo các sản phẩm hỗn hợp có giá trị kinh tế cao đang được nhiều nước áp dụng. Hiện nay, Thailand, Malaysia, Đài loan, Trung Quốc, v.v đã sản xuất được những sản phẩm có giá trị kinh tế cao từ hỗn hợp nhựa bột gỗ, mùn cưa, dăm bào, v.v. Một số tập đoàn lớn như Krauss Maffei- Berstorff, Battenfeld, Cincinati, v.v. đã giới thiệu các thiết bị gia công tấm thanh từ vật liệu composite nhựa- gỗ với những sản phẩm đa dạng về hình dáng, phong phú về màu sắc và tiện ích trong sử dụng nội thất và ngoài trời. Hiện có khoảng 180 công ty trên thế giới tham gia sản xuất trong lĩnh vực nhựa sinh học. Trong đó có 45 công ty sản xuất với sản lượng khoảng 400 000 tấn mỗi năm, tập trung cao nhất ở Mỹ, Đức và Nhật Bản. Hãng nhựa của công ty Mishibushi đã thành công trong việc nâng cao sức chịu nhiệt và sức bền của acid polylactic, kết hợp với các loại nhựa tự phân hủy. Loại nhựa này được sử dụng trong chiếc máy Walkman đời mới nhất mà công ty Sony vừa cho ra đời năm 2003. Năm 2005, Fujisu trở thành công ty kỹ nghệ đầu tiên chế tạo vỏ máy tính cá nhân từ nhựa sinh học, tiêu biểu là dòng sản phẩm FMV-BIBLO NB80K. Toyota là công ty đầu tiên trên thế giới sử dụng nhựa sinh học trong chế tạo các phụ kiện của ôtô, ví dụ như phần vỏ đựng lốp dự trữ.

Thị trường nhựa sinh học 1

Tổ chức nông nghiệp của Liên minh châu Âu (COPA-Committee of Agricultural Organisation in the European Union) và Hiệp hội các Ủy ban nông nghiệp của Liên minh Châu Âu (COGEGA-General Committee for the Agricultural Cooperation in the European Union) đã công bố các đánh giá về tiềm năng nhựa sinh học trong nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế châu Âu.
Tại Maroc, nơi tiêu thụ 3 tỷ túi ni lông/năm, công ty Symphony Plastics đã giành được một thị phần mỗi năm 1 tỷ euro. Tập đoàn Label’Vie sở hữu thương quyền của tập đoàn siêu thị Carrefour (Pháp) tại Maroc đã mua lại công nghệ «phân huỷ sinh học bằng ôxi» để sản xuất túi ni lông. Chi phí sản xuất tăng thêm tối đa từ 10 đến 15%. Theo các chuyên gia, rất khó thay thế một vật liệu bền, kín và không nguy hiểm cho sức khoẻ như nhựa.

Như vậy, công nghệ phân huỷ sinh học bằng ô xi có vẻ hấp dẫn hơn. Các doanh nghiệp tại Cameroon, Bờ Biển Ngà, Rwanda và Gabon là các khách hàng khác của công ty Symphony Plastics với doanh thu khoảng 5 triệu euro/năm tại châu Phi. Đây mới chỉ là bước mở đầu vì nhiều nước mới chỉ đang trong giai đoạn xây dựng luật về sử dụng túi nhựa.

Tại châu Phi, việc cấm sử dụng các loại bao bì không có khả năng phân huỷ sinh học đang trở thành một làn sóng mạnh mẽ. Từ giữa năm 2011, tại Kigali, thủ đô Rwanda, Cộng đồng Đông Phi (EAC) đã thông báo sẽ đưa ra một đạo luật cấm sử dụng túi nhựa tại 5 nước thành viên. Như vậy, Cộng đồng này đang tấn công vào một thị trường có mức lợi nhuận ước tính 4 tỷ euro/năm tại châu Phi.

Được sản xuất từ dầu lửa, những túi ni lông bị cáo buộc làm lãng phí một loại nguyên liệu ngày càng đắt đỏ tại các quốc gia nằm cạnh sa mạc Sahara. Do vậy, việc cấm sản xuất và nhập khẩu bao bì bằng nhựa (hay nilông) vừa mang động cơ kinh tế vừa mang động cơ môi trường. Tuy nhiên, việc thực hiện điều này không hề đơn giản.

Với những thuộc tính như bền, kín, không nguy hiểm cho sức khoẻ khi được xử lý, nhựa trở thành một vật liệu khó thay thế, nhất là trong ngành công nghiệp chế biến thực phẩm. Tuy nhiên, một số công ty trên thế giới đang đưa ra các giải pháp thay thế. Lãnh đạo một công ty của Pháp đang xuất khẩu khoảng 1800 tấn bao bì thực phẩm mỗi năm sang châu Phi với doanh thu 4 triệu euro cho biết: Chúng tôi đã xuất khẩu các túi nilông có khả năng phân huỷ sinh học sang châu Phi. Đây là điều tất yếu phải xảy ra.

Như vậy, khi giá dầu ngày một tăng cao, vấn đề bảo vệ môi trường và bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng đang đặt ra yêu cầu bức thiết trên toàn cầu. Đồng thời, những nghiên cứu về phương pháp mới sản xuất nhựa sinh học sẽ mở ra triển vọng lạc quan về mặt thị trường cho sản phẩm nhựa sinh học đối với các nhà sản xuất và cả người tiêu dùng. Tác động của việc sử dụng nhựa đến môi trường là một trong những thách thức ngày càng lớn đối với giới khoa học nói riêng và nhân loại nói chung.

Các giải pháp thay thế

Các sản phẩm công nghệ thay thế (nhìn chung đều có chứa các thuộc tính của những bao bì hiện nay) đang gây nhiều tranh cãi. Giải pháp công nghệ đầu tiên sử dụng toàn bộ hoặc một phần các nguyên liệu thực vật từ tinh bột ngô hoặc khoai tây để làm túi ni lông. Chỉ có điều giá của nó cao hơn 30% so với một túi ni lông cổ điển và tạo ra sức ép đối với các cây lương thực khi phải trồng trên quy diện rộng. Chẳng hạn, để sản xuất 200.000 tấn «nhựa sinh học » này, cần phải mất từ 250.000 đến 300.000 tấn nguyên liệu thực vật.

Thị trường nhựa sinh học 2Công nghệ thứ hai mang tên «phân huỷ sinh học bằng ôxi» có vẻ chiếm ưu thế hơn tại châu Phi. Các công ty P-Life của Nhật, EPI của Mỹ hoặc Symphony Plastics của Anh đang chạy đua để giành lấy thị trường này. Giải pháp họ đưa ra là cho thêm một chất phụ gia hoá học chiếm tỷ lệ 1% bao bì bằng nhựa cho phép phá vỡ chuỗi phân tử sau 1-3 năm. Kết quả : túi nilông vứt ra tự nhiên sẽ tự phân huỷ. Nó có thể hoàn toàn được các vi sinh học hấp thụ vào trong đất hoặc nước. Thị trường tiềm năng cho chất liệu này tại châu Phi ước tính trên 330 triệu euro mỗi năm.

Ở Việt Nam, nhựa sinh học vẫn còn là vấn đề khá mới mẻ. Năm 1998, một số nhà sản xuất đã đến Việt Nam để nghiên cứu về khả năng làm nh ựa sinh học từ bột bắp và bột khoai tây nhưng ý tưởng của họ không thực hiện được do giá thành sản xuất cao và không đủ nguồn nguyên liệu. Hiện chưa có những con số thống kê chính thức nào về sự sản xuất và thương mại nhựa sinh học ở Việt Nam.

Quan điểm phát triển ngành nhựa Việt Nam là phải đạt hiệu quả cao và bền vững, gắn liền với bảo vệ môi trường. Chất thải phải được quản lý và xử lý nghiêm ngặt, theo quy định của pháp luật trước khi thải ra môi trường. Công nghệ sản xuất phải đạt trình độ tiên tiến, đồng bộ và áp dụng công nghệ sản xuất sạch hơn vào sản xuất nhằm giảm chất thải và nguyên nhiên liệu tiêu thụ. Do đó việc nghiên cứu sử dụng nhựa sinh học, hỗn hợp nguyên liệu trong sản xuất các sản phẩm nhựa để tiết kiệm, hạ gía thành sản phẩm hiện đang là mối quan tâm của các doanh nghiệp nhựa Việt Nam. Nhựa phân huỷ sinh học ( bioplastic) là vật liệu có khả năng phân hủy thành các thành phần nước, CO2 và sinh khối dưới tác dụng của môi trường và vi sinh vật. Với mục tiêu tăng khả năng phân hủy của nhựa tryền thống ( có ngồn gốc từ dầu mỏ),  tinh bột được phối trộn với nền nhựa dầu mỏ. Mục đích pha trộn nhằm giảm thiểu thành phần dầu mỏ, tăng khả năng phân hủy sinh học cả sản phẩm compound, từ đó hạn chế sự ô nhiễm từ rác thải nhựa không phân hủy .

Tiêu biểu, có công ty THH BIOSTARCH đã sản xuất hai loại nguyên liệu là BIO40EBIO40P, với hàm lượng tinh bột trong mẫu nguyên liệu lên tới 40% kết hợp trên nền nhự thông dụng PE ( polyethylen) và PP ( polypropylene) để mở rộng ứng dụng của các sản phẩm sinh học.

Nhựa sinh học (hay còn gọi là chất dẻo sinh học), là chất dẻo có nguồn gốc từ các nguồn sinh khối tái tạo như chất béo thực vật, tinh bột ngô hoặc vi sinh… Nhựa sinh học được thiết kế để sản xuất các vật dụng dùng một lần, vỏ chai… có khả năng phân hủy sinh học.Với cơ chế phân hủy sinh học cuả  nguyên liệu, sau khi được gia công thành sản phẩm cuối, các sản phẩm thải ra môi trường và dưới tác động cuả vi sinh vật sẽ phân huỷ các sản phẩm này.

Thị trường nhựa sinh học 3

Lợi ích của nhựa sinh học

  • Thân thiện môi trường: Sản phẩm có khả năng phân huỷ trong thời gian ngắn dưới tác động vi sinh vật và độ ẩm, giảm thiểu ô nhiễm môi trường do rác thải nhựa gây nên.
  • An toàn khi sử dụng: Sản phẩm nhựa sinh học không chứa bất kỳ thành phần độc hại hay kim loại nặng nào.
  • Có thể tái chế được: Có khả năng tài chế sau khi sử dụng, tương tự nguyên liệu nhựa truyền thống.
  • Dễ dàng bảo quản: Sản phẩm chỉ phân huỷ khi được chôn vào môi trường đất, dưới tác động của độ ẩm và các vi sinh vật, không giảm cấp trong quá trình sử dụng và lưu kho.
  • Giá cả ổn định hơn: Các dòng sản phẩm là sự kết hợp nguyên liệu tái tạo với chi phí thấp, giảm thiểu lượng nhựa dầu mỏ. Do đó hiệu quả hơn về giá cả và chi phí sản xuất.

Trên 300 triệu tấn nhựa được sản xuất mỗi năm, trong đó một nửa được dùng để thiết kế những sản phẩm dùng một lần như túi mua sắm, ly và ống hút, theo Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN). Mỗi năm, ít nhất 8 triệu tấn nhựa tập kết ở đại dương, tạo nên 80% rác thải ở biển từ nước mặt cho đến tầng biển sâu.

Đầu năm 2017, trên bãi biển Na uy phát hiện một chú cá voi nặng 9 tấn, 2 tuổi, bị chết vì mắc kẹt ở vùng nước nông. Trong bao tử chú cá voi này, người ta tìm thấy 30 bao bì ny-lon, bên cạnh nhiều rác thải nhựa khác.

Năm 2018, thế giới từng chấn động với hình ảnh cá voi dạt vào bờ biển Thái Lan trong tình trạng yếu không thể dung nạp dinh dưỡng, dù các nhân viên của Cơ quan hàng hải và tài nguyên biển Thái Lan nỗ lực để trợ giúp cứu sống chú cá nhưng nó vẫn chết sau đó. Và rồi người ta phát hiện hơn 80 chiếc túi nylon, nặng khoảng 8kg được tìm thấy trong dạ dày của con cá voi.

Nhiều nước đã tuyên chiến với túi ny-lon. Một số quốc gia và vùng lãnh thổ cấm hoàn toàn túi nhựa như Đài Loan, Bangladesh. Một số khác có những chính sách hạn chế sử dụng như Ireland, Pháp, Úc, Anh, Singapore và một số nước tích cực nghiên cứu để sản xuất nhựa phân hủy sinh học từ nhiều nguồn hữu cơ hơn như Nhật. Ở Việt Nam,  cũng đã có nhiều doanh nghiệp thử nghiệm thành công và sản xuất các sản phẩm làm từ nhựa phân hủy sinh học. Chính vì vậy, để chung tay góp sức bảo vệ môi trường thì việc sử dung các sản phẩm từ nhựa sinh học là không thể bỏ qua.

 

 

Trả lời

14 − 11 =

Đóng Menu
×
×

xe đẩy